1. Cá giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Phân tích kết quả của 13 nghiên cứu 220.000 người, được theo dõi trong 12 năm cho thấy: những người có dùng một lần cá trong tuần, nguy cơ mắc bệnh tim mạch giảm được 15%. Nếu ăn cá 5 lần/ tuần thì giảm được 40% nguy cơ.
Lợi ích sau này là do các axit béo omega – 3, có khả năng ngăn ngừa loạn nhịp, giảm lượng triglycerid và lượng mỡ cơ thể.
![]() |
| Những lợi ích và các điều cần tránh khi ăn cá - 1 |
2. Cá giảm nguy cơ bị dị ứng, hen
Theo tạp chí Allergy, 8 – 2006, một nghiên cứu thực hiện với 4.086 trẻ sơ sinh, được theo dõi đến lúc 4 tuổi, cho thấy: những trẻ ăn cá, khi một tuổi hay trước một tuổi, ít có nguy cơ bị dị ứng (so với các trẻ khác).
Một nghiên cứu khác trên 598 trẻ, cho thấy những trẻ thường xuyên dùng cá và ngũ cốc (như gạo lức) ít nguy cơ bị hen.
3. Ăn cá, hạn chế sự suy thoái chức năng nhận thức
Dùng cá giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu Chicago đã theo dõi trong 6 năm tình trạng tâm thần và sử dụng cá của nhóm người tình nguyện thuộc nhóm “Chicago Health and Aging Project” cũng đã chỉ ra rằng: ở những người thường dùng cá, khả năng nhận thức giảm rất chậm, so với người không dùng cá.
Một nghiên cứu khác đã được tiến hành ở Anh. Trong số những người tự nguyện 70 – 79 tuổi, một nhóm dùng mỗi ngày và như vậy trong 24 tháng, 3 viên nang omega – 3 (0,5 g/ngày DHA và 0,2 g/ngày EPA). Một nhóm khác dùng giả dược. Kết quả cho thấy: omega – 3 của cá ngăn ngừa sự suy thoái điểm vàng liên quan với sự tích tuổi. Khả năng nhận thức của người dùng omega -3 được củng cố rõ rệt.
![]() |
| Những lợi ích và các điều cần tránh khi ăn cá - 2 |
4. Mẹ ăn cá, tốt cho thai nhi
Cá cung cấp các axit béo loại omega – 3 như EPA và DHA cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Vào tam cá nguyệt cuối của thai kỳ, omega – 3 rất cần thiết vì chính lúc này, các tế bào não của bộ thai nhi được hình thành. Ở phụ nữ mang thai, nhu cầu về DHA được nhân lên 2,5 lần và mẹ ăn cá cung cấp các chất cần thiết cho bộ não của thai nhi. Cá còn cung cấp một lượng vitamin D quan trọng, cần thiết cho sự khoáng hóa bộ xương, chất iod cho sự phát triển não của bé và chất sắt cần thiết cho sự phát triển của thai nhi.
==> Xem Thêm:
- Đừng bỏ qua những lưu ý nếu muốn làm món BEEFSTEAK ngon từ thịt bò Nhật
- Thịt bò Hitachi được phân phối chính thức tại Việt Nam
- Thưởng thức thịt bò Hitachi tại Việt Nam vừa mới lạ vừa ngon
- Thịt nạc vai bò Hitachi làm món gì ngon?
- Tìm hiểu những cấp độ chín của món thịt bò BEEFSTEAK
Cá có thể gây một số rối loạn ở một số người như nổi mề đay, eczema, gây ói mửa, tiêu chảy và rất hiếm hơn là rối loạn tim mạch. Cá có thể gây dị ứng do sự biến đổi chất histidin (một axit amin) thành histamin gây dị ứng.
![]() |
| Những lợi ích và các điều cần tránh khi ăn cá - 3 |
Cá ngừ, nhất là cá không thật tươi, có thể gây dị ứng cho những người có hệ tiêu hóa yếu hay có cơ địa dễ bị dị ứng. Vì vậy, khuyên ở lần đầu tiên cho trẻ nhỏ ăn cá, nên cho bé ăn một lượng nhỏ mà thôi. Đối với trẻ mắc chứng khó tiêu, bị hen hay bị chàm (eczema), không nên cho ăn cá. Cá cũng là một trong những thực phẩm có chứa chất nitrogen không proteic như urê, ammoniac; vì vậy nên hạn chế ăn cá cho những người bị gút và viêm khớp.
Đối với phụ nữ mang thai, chất metil thủy ngân có khả năng qua nhau thai và sữa mẹ. Nhiều nghiên cứu cũng xác định thai nhi, khi tiếp xúc với metil thủy ngân qua nhau thai, khi sinh ra, có nguy cơ có triệu chứng thần kinh ở thị giác, thính giác và ngôn ngữ. Nhưng cá có nguy cơ chứa metil thuỷ ngân chỉ là loại cá lớn, cá bắt mồi (cá ăn động vật) như cá ngừ đại dương, cá thu, cá chuồn, cá đuối, cá kìm, cá mú. Vì vậy, khuyên các bà mang thai hạn chế dùng các loại cá lớn thuộc nhóm cá bắt mồi, có thể có lượng metil thủy ngân cao.
Chúc bạn luôn có những bữa ăn ngon !
Xem thêm các kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe : Tại Đây !
Website: SixPluss.vn
Subscribe by Email
Follow Updates Articles from This Blog via Email



No Comments